About

This is an example of a WordPress page, you could edit this to put information about yourself or your site so readers know where you are coming from. You can create as many pages like this one or sub-pages as you like and manage all of your content inside of WordPress.

3 Responses to About

  1. BachDangGiang says:

    Vietcong da giao HoangSa cho TrungCong !!!!!!!! Xin thong tin cho tat ca nguoi Viet khap the gio’i biet.

    Duoi day la link, ban se tim thay hang chu ” Administered by China, Claimed by Vietnam” duoc ghi chu’ ngay tai hi`nh do^` HoangSa

    http://www.natgeomaps.com/asia

    Du`ng Zoom de pho’ng lo’n ra.

  2. Huyền Trọng says:

    Kinh goi Toa Soan 02 bai tho.
    Tac gia,
    Kinh!
    ————————————————————————-

    CHẲNG NGỜ

    Tôi có chờ đâu có đợi đâu?
    Mùa xuân quốc hận đến thêm sầu
    Với tôi, cộng sản là quân cướp
    Cướp lấy Miền Nam để theo Tàu.

    Tôi có tìm đâu có hiểu đâu?
    Nga Xô, Trung Cộng biết chi rầu
    Với tôi, phi nghĩa thì phải chết
    Xô đã đi rồi, Cộng chạy đâu ?

    Tôi có mời đâu có gọi đâu?
    Rước chi cộng sản cõng thêm sầu
    Với tôi cộng sản là phi nghĩa
    Cộng sản không ngoài nghĩa khổ đau.

    Tôi có ngờ đâu đến thuở này
    Việt Nam Cộng Sản vẫn loay hoay
    “Ngọa Triều” chà đạp dân như rác
    Biển, đất dâng Tàu khốn nạn thay !

    Anh hùng hào kiệt đâu chẳng thấy,
    Nỡ để dân oan khổ thế này ?
    Lòng dân uất hận trời cao thấu,
    Triệt lũ “Ngọa Triều”hết quái thai

    Ngày 19 tháng 03 năm 2010
    Huyền Trọng

    —————————————————————————————-

    LÒNG DÂN UẤT HẬN

    Ôi Bác Hồ ơi mỗi sáng chiều,
    Nhìn Lăng thấy Đảng quá quan liêu
    Ra đi Bác dặn đừng ướp xác ?
    Hoang phí tiền dân khổ đã nhiều !

    “Đảng quỷ” mị dân, “Bác ngọa triều ”
    Lăng tàn bia miệng mãi rao rêu,
    Bêu lòng,óc Bác ra hành xác,
    Phơi thây Bác thấy họa tiêu điều ?

    Đất nước quằn đau họa “Ngọa Triều”,
    Luật rừng chà đạp mặc dân kêu
    Ra đi Bác dặn gì hỡi Bác ????
    Tham nhũng, hành dân, bịp, giáo điều… !

    Cướp đất dân oan, hành đủ kiểu,
    Biển, đất dâng Tàu, thật trớ trêu !
    Hoàng ,Trường Sa khóc chưa khô lệ,
    Tổ quốc rơi đầu,quan ải tiêu… !

    Anh hùng hào kiệt nào có thiếu,
    Sao để giang sơn lắm tiêu điều?
    Lòng dân ngút hận trời cao thấu,
    Lũ ngụy “Ngọa Triều” ắt phải tiêu!

    Ngày 14 tháng 2 năm 2010
    (Mùng 01 tết Canh Dần)

    Huyền Trọng

  3. hoanglonghai says:

    Kinh goi toa soan
    Toi xin goi kem sau day, baso 2 trong hồi ky Đoi Ty Nan cua chúng toi.
    Neu qui vị thấy can de phong nhung nguoi tùng co quá trì lam dich van cho Cong San, xin lưu ý bài viét nay.
    Co nquy vi thy khong can thiet, xin cho qua.
    Day khong phai la noi xau ma can l ưu tam va ngan ngua nhung ten nam vung, truoc bay gio v à sau nay
    Phòng SB:

    Về tới Bidong, như thủ tục, chúng tôi được đưa thẳng vào phòng SB (Special Branch) để khai báo sơ lược lý lịch. Nhân viên ở đây kêu từng người vào bàn làm việc của họ, hỏi sơ lược quá trình từng người. Người phỏng vấn tôi, trước khi xếp hồ sơ, nói với tôi:
    – “Ở đây đang cần người có khả năng như anh, mai mốt anh lên đây làm việc với chúng tôi.”
    Tôi cười và “Cám ơn.”
    Phòng SB là một chi nhánh của cơ quan tình báo Mỹ, do ông đại tá Bill phụ trách. Ông Bill không ở thường xuyên tại đây. Văn phòng chính của ông ở Bangkok. Cứ vài tháng, ông ta qua Bidong một lần, đọc lý lịch từng người rồi ghi vào một cái máy xách tay. Hồi ấy, tôi chưa biết computer là cái gì. Trước 1975, ở Saigon thì chỉ nghe nói máy IBM. Bộ Tư lệnh Cảnh Sát có một máy IBM để làm căn cước cho đồng bào. Bộ Tổng Tham Mưu một máy IBM để lập hồ sơ quân nhân, hình như phủ thủ tướng cũng có một máy IBM khác nữa. Khoảng các năm 1973, 74, học sinh đi thi tú tài, làm bài bằng cách khoanh a, b, c. để máy IBM chấm bài nên hồi đó, người ta gọi đùa là “tú tài abc”, hay “tú tài IBM”. Một máy IBM chiếm một gian nhà. Trước khi vượt biên thì có nghe người ta nói “Tin học”, nhưng tin học là cái gì thì biết đâu!
    Còn ông Bill, ông có cái máy xách tay, bề mặt bằng tờ giấy photocopy, dày hơn cuốn sách thông thường. Có lẽ đó là cái laptop, nhưng hồi đó cũng chưa ai biết laptop là cái gì, có lẽ nó chưa phổ biến như bây giờ. Suốt mấy ngày ông Bill ngồi đánh máy vào laptop. Xong, ông xách máy về Bangkok, thế là rồi việc. Coi như ông ta mang hết hồ sơ đi.
    Sau nầy, sau khi tôi vào làm ở phòng SB nầy một thời gian, ông Bill xuống chỗ tôi ở ăn cơm chơi với vợ chồng tôi, ông “bật mí” vài chi tiết về đời tư.
    Ông Bill qua Việt Nam năm 1954, khi mới ra trường, mang lon thiếu úy. Hồi ấy, ông ta học tiếng Việt do người Bắc dạy, nên ông nói tiếng Việt theo giọng Bắc. Có một thời gian, ông sống ở khách sạn Morin Huế, khi khách sạn nầy chưa trở thành cơ sở của viện đại học Huế. Khoảng trước tết Mậu Thân, ông cưới vợ Huế, tên Dung, nhà bán thuốc lá Cẩm Lệ ở phố chợ An Cựu. Sau nầy, khi ở Mỹ đã lâu, gặp nhiều nhân vật cố cựu ở An Cựu, như anh Hoàng Hữu Hương, bà con và người cùng làng, học trò cũ của tôi, nay định cư ở Mỹ, anh Phan văn Chung, bạn học với Hùng móm, em trai tôi, hiện định cư ở Minnesota, tôi biết thêm vài việc vui vui. Té ra, cô Dung, vợ ông Bill, là học trò cũ của tôi mà tôi không biết. Thứ hai, bố vợ ông Bill, cũng như cha con ông Thiên Tường (người ta hay đùa, nói ngược lại là Thương Tiền), nhà kế cận nhà cô Dung, đều có hoạt động cho Việt Cộng. Bố cô Dung, có lẽ nhờ là bố vợ ông Bill, nên không có gì phiền hà nhiều, vã ông ta chỉ bị “mang tiếng” vậy thôi, chớ chẳng thấy hoạt động gì, còn cha con ông Thiên Tường thì đều bị Quốc Gia xử tử ở cầu Kho Rèn, ngay sau tết Mậu Thân vừa xong vì hoạt động cho Việt Cộng. Ông Bill là bạn đồng nghiệp với ông Bell. Ông nầy cũng cưới vợ Huế, bà Nam Trân, người làng Hiền Lương, cùng quê nội với tôi. Về vụ cha con ông Thiên Tường, nếu độc giả muốn biết thêm, xin đọc hồi ký của tôi viết về Mậu Thân ở Huế. Xứ An Cựu nầy, cùng trang lứa với cô Dung nầy, còn có thêm một quái kiệt nữa. Đó là Lê Văn Tống. Bởi vì tiếng Mỹ viết ngược nên tên Lê Văn Tống đươc viết là Tong Le. Đọc ngược lại một lần thứ hai nữa, ra tiếng Việt thì thành Lý Tống.
    Vì cái IBM và laptop nầy mà nhiều người bị “bể dĩa”. Người ta nói là trước 30 tháng Tư- 1975, Mỹ rời Việt Nam với 2 cái dĩa IBM là trong đó có đủ hồ sơ lý lịch toàn thể quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nay có người nào khi gian lý lịch, vì dụ như trung sĩ khai trung úy, ông Bill chỉ cần đối chiếu lý lịch người ấy khai ở đảo ghi trong laptop của ông ta với lý lịch trong dĩa IBM là xì ra ngay. Khai gian như thế thì dễ bị “Phái đoàn Mỹ” từ chối, nghĩa là không được định cư ở Mỹ, chờ phái đoàn các nước khác như Úc, Hòa Lan, Nay Uy, Thụy Điển tới xét cho đi theo “diện nhân đạo”.
    Ông Trần Văn Chính Mù có kể câu chuyện, một anh Việt Cộng khai là đại tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Anh tình báo nầy “điều nghiên” kỹ lắm nên khai dúng y chang lý lịch một ông đại tá nào đó. Cuối cùng, xong rồi, anh nhân viên Mỹ mới hỏi “Đại tá có còn gì để khai nữa không?” Anh chàng tình báo Việt Cộng trả lời rằng khai thế là xong, đầy đủ hết rồi. Bấy giờ nhân viên Mỹ mới ngồi ngữa người ra mà cười ha hả, nói rằng, còn một điều mà “đại tá” chưa khai, đó là “Ông đại tá nầy đã chết vào ngày 28 tháng Tư- 1975 rồi.” Té ra anh tình báo Việt Cọng bị tổ trác, ông đại tá nầy chết vào những ngày cuối cùng, hồ sơ chưa kịp cập nhật mà anh ta không hay!!!
    Lại có anh lính địa phương quân, khai rằng 30 tháng Tư anh ta về quê nuôi vịt, ấp hột vịt lộn. Cái nầy hơi rắc rối vì người Mỹ không ăn hột vịt lộn, nên tiếng Mỹ đâu có danh từ nào nói tới nghề ấp hột vịt lộn đâu! Cái đó chưa đau! Nhân viên Mỹ Mỹ hỏi ấp trứng vịt xong bán cho ai? Cho hợp tác xã. Hợp tác xã là tổ chức của Việt Cộng, có nghĩa rằng anh lính địa phương quân hợp tác với Việt Cộng nên anh ta bị “phái đoàn Mỹ từ chối.”
    Ngay trong nhà tôi ở cũng có một trường hợp hơi đặc biệt. Nguyên ông nầy là cán sự lâm nghiệp, làm trưởng hạt kiểm lâm. Xe be từ trong rừng ra, ông ta chỉ việc lấy thước đo gỗ súc mà tính “tiền tip”, nên cũng giàu có. Xe be vào rừng lấy gỗ thì đương nhiên gặp Việt Cộng, đóng thuế hay tiếp tế cho Việt Cộng là việc không thể tránh được, dù là gỗ của đức cha, hay của bà Nhu, hay của ông Đỗ Cao Lụa ở Biên Hòa. Ngược lại, do Mỹ yêu cầu, ông cán sự kiểm lâm cũng lấy tin từ các xe be về việc Việt Cộng tới lui, di chuyển giờ giấc nào, đông hay ít, ở trong rừng mà báo cho họ biết. Sau 1975, anh “hàng xóm” tôi còn được Việt Cộng “lưu dung” một thời gian vì “khả năng chuyên môn”. Trước khi được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, anh ta tin chắc rằng anh sẽ được đi Mỹ vì trước kia có hoạt động cho Mỹ, trao tin Việt Cộng ở trong rừng, v.v…Nhân viên Mỹ hỏi sau 1975 anh ta có làm gì không? Anh ta trả lời có làm việc cho chế độ mới một thời gian. Như vậy, có nghĩa là có hoạt động cho Việt Cộng nên bị từ chối đi Mỹ. Gặp “phái đoàn Mỹ” xong ra về, tới nhà, anh ta chưởi Mỹ không biết bao nhiêu mà kể. Anh ta đâu có biết, trên nguyên tắc, từng làm việc cho tình báo Mỹ, mà sau đó có hợp tác với Việt Cộng thì coi như xong, chịu khó định cư ở Úc, Canada hay châu Âu vậy!
    Tầu tôi được đặt tên là MC 483.
    Làm thủ tục xong, tôi được đưa về chỗ ở. Sau khi có “đổi mới”, Việt Cộng nới lỏng cho người vượt biển được thêm đông để sau nầy làm “Việt kiều hồi hương”. Ở Bidong lúc ấy là 14 ngàn người. (Thời kỳ đông nhất là hồi nạn kiều, Bidong chứa tới 40 ngàn người). Tất cả các longhouse đều chật ních. Tôi, vợ tôi và đứa con nhỏ được chia một chỗ nằm bằng một chiếc chiếu đôi. Chúng tôi phải gởi gạo ăn chung với một gia đình khác ở longhouse khác.
    Lại phải nói tiếp về phòng SB.
    Tàu tôi vượt biên có ba sĩ quan. Ông Cao Dai, thiếu tá, ông Nguyễn Văn Di, đại úy, và tôi.
    Về ông Cao Dai thì tôi biết ông từ lâu, năm 1960, năm thứ hai tôi dạy ở trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Bán Công Huế. Tôi dạy ở lớp đệ tam, bên cạnh là lớp “đệ nhị học lại”, gồm những học sinh thi hỏng tút tài 1, nay học lại để thi thêm keo nữa. Thầy dạy lớp nầy gồm toàn các “cụ”, tức là mấy cụ già ở trường, từng nhiều năm kinh nghiệm trong ngành giáo dục như cụ Đinh Thành Chương (Năm sau ông vào làm hiệu trưởng trường sư phạm Qui Nhơn), cụ Lâm Toại, cụ Trần Điền (sau nầy là thượng nghị sĩ). Học trò thì gồm nhiều người nổi tiếng như một nữ danh ca đất thần kinh, một nam ca sĩ, quê ở Quảng Trị, cũng nổi tiếng ở Saigon đi học lại, và không ít giai nhân như Vĩnh Th., Nguyễn Cửu Thi Th. và một vài quái kiệt khác. Anh Cao Dai là một trong những học sinh cũng nổi tiếng. Trong các buổi họp hội đồng giáo sư, tôi nghe các giáo sư dạy lớp nầy nhắc tới tên ông, có khi là Cao Đài, có khi là Cao Đại, hoặc Cao Đãi bởi vì không ai ngờ rằng trong đòi nầy có người có cái tên Dai thay vì Giai. Do đó, hồi ấy, tôi có nghe tên anh ta mà chưa thấy mặt. Cũng may, anh ta biết tôi. Khi còn ở trại Marang, anh ta tới hỏi tôi:
    – “Anh có dạy Bán Công phải không?”
    Nhớ tên anh ta, tôi cười:
    – “Ông cũng học ở đó rồi đi Thủ Đức, nay mang cấp bậc gì rồi?
    – “Thiếu tá!” Ông ta trả lời.
    Tôi nói đùa:
    – “Vậy ông là cấp trên của tôi.” Rồi tôi kiếm chuyện làm quà:
    – “Xem ra tướng ông cũng tốt đấy. Hậu vận không đến nỗi gì đâu!”
    – “Tướng tôi sao?” Anh ta hỏi.
    – “Anh học hành ra sao tôi không rõ, tướng không đẹp trai nhưng tốt!”
    – “Không đẹp trai mà tốt nỗi gì?” Anh ta phản bác.
    – “Ậy! Ông Khổng Tử có đẹp trai đâu, nhưng tướng ông là tướng tốt! Anh biết không?” Tôi giải thích.
    – “Vậy tướng tôi sao?” Anh ta lại hỏi.
    – “Ông có thấy cái mũi ông to hơn bình thường không? Đó là một. Trong ngũ nhạc, mũi to là tốt!”
    – “Ngũ nhạc là cái chi?” Anh ta hỏi.
    – “Ngũ nhạc gồm có trán, hai gò má, mũi và cằm. Mũi ở giữa, cao và to hơn các gò khác là tốt.” Tôi giải thích.
    – “Tui khổ vì cái mũi cà chua của tui. Soi gương thấy kỳ cục quá!” Anh ta than.
    – “Ông Khổng Tử trán dồ, ông ta có than như anh đâu!”
    – “Trán dồ thì sao?” Anh ta lại hỏi.
    – “Mấy người trán dồ bướng lắm.” Tôi nói.
    – “Tui có cái chi tốt nữa!” Anh ta lại hỏi.
    – “Giọng nói. Đàn ông phải có tiếng nói lớn mới tốt. Sách tướng nói đó là tướng chỉ huy, ra lệnh cho người khác.” Tôi trả lời.
    Điều tôi nói có thể đúng. Sau nầy, ở Bidong, anh ta làm trưởng Khối An Ninh của trại.
    Vào trại được hai hôm, Cao Dai lên làm việc ở phòng SB vì quen với Trần Đình Khánh. Ngay chiều hôm đi làm việc về, anh tìm gặp tôi nói:
    – “Tôi có đề nghị với anh Khánh gọi anh lên làm việc. Anh ta ừ rồi. Mai mốt anh lên làm với tui cho vui.”
    Hôm sau, có loa gọi tôi lên phòng SB. Tôi gặp ông Lã Quí Tr. và cả ông Trần Đình Khánh nữa. Rồi họ đưa cho tôi một xấp giấy, bảo khai lại lý lịch, khai thật đầy đủ. Tôi làm y lời, khai từ khi nhỏ đến ngày vượt biên.
    Theo tôi biết, hai ông Khánh và Tr. thì ông Khánh là trưởng phòng vì ông Khánh tới đảo trước, làm trưởng. Ông Lã Qui Tr. đến sau, tức làm phó phòng. So cấp bậc, ông nào cũng thiếu tá. Ông Khánh thuộc Lực Lượng Đặc Biệt, ông Tr. thuộc binh chủng Dù.
    Khi tôi nạp bản khai, ông Tr. nói với tôi: “Tôi là trưởng phòng SB.”
    Tôi hỏi:
    – “Ông Khánh sao?”
    – Ông Khánh cũng trưởng phòng. Tôi sắp lên trung tá.”
    Trời ơi! Tôi than thầm. Tới nước nầy rồi, đi ăn cơm xin mà còn mơ thiếu tá với trung tá. Chắc hai con cọp nầy ở chung một rừng không lâu. Quả vậy, tháng sau, ông Khánh bàn giao trưởng phòng SB cho ông Lã quí Tr. Ông Tr. liền đuổi ông Khánh ra khỏi phòng, xuống ở dưới longhouse, không cho ở tại phòng SB nữa. Trưởng phòng SB ở ngay tại chỗ, khỏi ở chung với đồng bào tỵ nạn. Ai nói đời không bạc như vôi!
    Làm lý lịch xong rồi, tôi chờ mấy ngày không thấy phòng SB kêu lên nhận việc. Cao Dai hỏi tôi, tôi nói: “Có thấy kêu lên đâu!” Cao Dai lên hỏi Trần Đình Khánh, mới biết bản khai lý lịch của tôi ông Lã Quí Tr. đọc xong đem cất riêng, không đưa cho ông Khánh. Ông Tr. kỵ gì tôi khi ông ta đọc lý lịch tôi!? Ông Khánh hỏi ông Tr. lấy hồ sơ lui, rồi cho gọi tôi lên nhận việc.
    Sau nầy, biết lý lịch của Tr. Tôi nói với Nguyễn Dương Hảo, nguyên là kỹ sư canh nông, cũng làm việc tại phòng SB, rằng Lã Qui Tr. là tay rất thủ đoạn.
    Hảo nói với tôi:
    – “Khi còn ở Việt Nam, em là “vua thuốc tây” chợ trời Saigon, mỗi ngày giá cả lên xuống là do nơi em. Lã Qui. Tr. cũng buôn thuốc Tây, mỗi ngày, nó chạy chiếc Yamaha dame tới quán caphê, chỗ em thường ngồi, chờ em ra giá xong, nó chạy mối kiếm tiền còm. Qua đây, thấy em, nó gọi em lên phòng SB làm việc liền, đâu có chờ như anh.”
    – “Nó trám miệng ông đấy! Nó sợ ông nói chuyện cũ về nó. chớ gì! Ông biết vậy không?” Tôi nói.
    Hảo trả lời tôi:
    – “Biết rõ hơn chớ, nó làm phó phòng 3 Sư Đoàn Dù mà cải tạo có bốn năm rưởi thì về. Răng về sớm thế!”
    Sau nầy, qua vài người quen, tôi biết thêm tại sao Lã Qui Tr. được Việt Cộng cho về sớm: Lã Quí Tr. có vợ bé là con gái bà Hòa Khanh hay Hòa Khánh gì đó, tiệm bán võ xe hơi ở góc đường Nguyễn Cư Trinh và Ngô Tùng Châu, Saigon. Bà nầy là em ông chủ hiệu Rồng Vàng ở Huế. Ông nầy làm kinh tài cho Việt Cộng, từng bị “quốc gia” bắt bỏ tù, còn bà nầy, sau 30 tháng Tư, mang “lon” thiếu tá Công An. Đó là lý do tại sao Lã Quí Tr. đi tù cải tạo về sớm, cùng một lần với trung tá Hải Quân Lê Kim L., cháu gọi Lê Đức Anh bằng chú. Lê Kim L. đi H.O. còn Lã Quí Tr. thì vượt biên. Anh ta là thiếu tá, sắp lên trung tá, vậy phải là sĩ quan giỏi, và qua cái giỏi đó, có bao nhiêu tin tức từ Sư Đoàn Dù qua tay vợ bé của y mà tới tay Việt Cộng?! Có gì nghi ngờ việc nầy không?
    Cũng chưa hết, Lã Quí Tr. vượt biên theo đường giây của Nguyễn Khoái ở Bến Tre. Khoái là đại úy Dù, không đi cải tạo, lại về Bến Tre tổ chức vượt biên, cho vợ đi trước, mở cửa hàng siêu thị ở Mỹ rồi Khoái đi chuyến chót, móc Lã Qui Tr. đi theo.
    Thiên địa ơi! Chuyện gì mà kỳ vậy nè? Đại úy Dù đã không đi tù cải tạo mà lại còn tổ chức vượt biên. Không phải là Trời cũng đoán biết chuyện gì xảy ra. Tr. vượt biên cùng với Khoái cũng chỉ là “ngưu tầm ngưu” mà thôi!
    Do có tì vết, Lã Quí Tr. bắt dò đại tá Bill rất chặt, để được che chở, nào yêu cầu ai làm việc ở phòng SB góp tiền tổ chức mừng “Happy Birthday” đại tá Bill, nào cơm nước điếu đóm và… chuyện gì nữa thì xin hỏi cô Lan, quê Vĩnh Bình, sau nầy lấy một ông bác sĩ người Thụy Điển làm việc ở bệnh viện SickBay trên đảo Bidong. Cô nầy cũng khó thoát khỏi tay Lã Quí Tr.
    Chưa hết đâu!
    Một hôm có chuyến vượt biên tới, trời đã tối. Tôi được gọi lên lập lý lịch cho đồng bào mới tới đảo. Tàu nầy, có hai nhân vật đặc biệt. Một là Bùi Thị Mi, vợ Nguyễn Văn Hiệp, trung tá giám đốc sở Công An tỉnh Đồng Nai. Hiệp là người thay chức Mười Vân bị bắt và bị xử bắn vì tổ chức vượt biên ở Xuyên Mộc. Việc nầy, ở Việt Nam, nhiều người biết.
    Việt Cộng dùng Hiệp để lật Vân, nay chúng lại lật Hiệp. Vợ Hiệp, Bùi Thị Mi, hãi quá, hay thị là đồng bọn? bỏ chạy, tới Bidong. Cùng vượt biên với Bùi Thị Mi có Văn Thúy S., sinh viên đại học Vạn Hạnh trước 1975, con của Văn Văn L., trước 1975 là nghị viên hội đồng thị xã Vũng Tầu. Sang gọi thị Mi bằng mợ, hai mợ cháu cùng vượt biên, hay cháu đem mợ vượt biên, hay cả hai cùng đi trốn vì cùng là đồng bọn cả. Hôm đó, tôi không lập hồ sơ sơ khởi cho hai người nầy.
    Hôm sau, khi uống nước, chúng tôi nói với nhau về hai tay vượt biên mới tới đảo nầy: Bùi thị Mi và Văn Thúy Sang, Tống Văn Thừa, nguyên đại úy Cảnh Sát, cùng làm SB, nói với tôi:
    – “Anh Hải biết không? Hai người nầy ở trong vụ N-3.”
    – “Vụ án hình sự ở Đồng Nai, báo Saigon có đăng?” Tôi hỏi.
    – “Vụ đó chớ chi nữa. Thằng thay chưn Mười Vân làm y như Mười Vân, bị bắt rồi!”
    – “Tui có đọc báo, biết sơ sơ! Ông lưu ý ông Khánh chưa?”
    – “Chưa! Ông Khánh sắp rời đảo đi định cư rồi, nói làm gì. Tôi sẽ nói với ông Tr., nhưng mấy chả nầy biết mẹ gì về tình báo đâu mà làm! Anh với tui phải làm mới được.”
    – “Được, tui chẳng giỏi gì về tình báo đâu, nhưng làm chi cũng được, biết sao tui làm vậy.” Tôi nói.
    Hôm sau, có lẽ do đại úy Tống Văn Thừa nói với ông Tr., nên Bùi Thị Mi và Văn Thúy Sang bị gọi lên phòng SB. Tống Văn Thừa điều tra Bùi Thị Mi còn tôi điều tra Văn Thúy S.

    Văn Thúy Sang khai:
    + Về Nguyễn Văn Hiệp, quê ở Đất Đỏ, Đồng Nai, khoảng các năm 1950, 51 là học sinh trường Nguyễn Văn Khuê, gần chợ Cầu Muối (Sau nầy là trường Bồ Đề Saigon), bỏ học trốn theo Việt Minh, năm 1954 tập kết ra Bắc, sau 1975 về nam, làm phó giám đốc cho Mười Vân. Có công trong vụ tố cáo Mười Vân nên được thưởng, lên thay Mười Vân làm giám đốc Công An Đồng Nai. Đầu năm 1989, bị điều tra về việc tổ chức vượt biên ở Xuyên Mộc. Theo tôi hiểu đây là vụ tranh ăn giữa Công An (Saigon) và Công An Đồng Nai. Khách vượt biên phần nhiều là dân (Saigon), trong đó không ít là bạn học cũ của Văn Thúy S. (thị chối, không khai là do thị móc nối vượt biên để ăn chia với cậu của thị). Dân Saigon mà đem vàng đóng cho Đồng Nai ăn ngon, mấy ông Công An (Saigon) đâu chịu thua. Thế là họ bí mật theo dõi, xin lệnh trung ương về tận Xuyên Mộc bắt vượt biên, Nguyễn Văn Hiệp bị tù.
    + Hôm Nguyễn Văn Hiệp bị bắt, Bùi Thị Mi đang ở Hà Nội. Thị khai về thăm gia đình. Khi thị Mi vào Saigon, biết tin, không dám về nhà, tìm tới Văn Thúy S. Cả hai mợ cháu cùng đi trốn và vượt biên. Hiệp đang ở tù, các con ở với nhau, không cha, không mẹ.
    + Bùi thị Mi khai không biết gì về việc làm của chồng, coi như vô tội nhưng sợ Việt Cộng quá, bắt lây, bèn vượt biên cùng S.
    + S. khai như đã nói trên: Sinh viên văn khoa đại học Vạn Hạnh, trước 1975. Sau 1975, S. về Vũng Tầu ở với cha là Văn Văn L., nghị viên hội đồng thị xã, có cửa hàng buôn bán xe Honda ở Vũng Tầu nhưng đã dẹp tiệp sau khi bị đánh tư sản. Văn Văn L. không bị bắt đi cải tạo, đã vượt biên định cư ở Canada. Văn Thúy S. cũng vượt biên, đi cùng người yêu, một thiếu úy Quân Đội VNCH, nhưng chuyến vượt biên không thành. Tuy nhiên, đến khi ông bố bảo lãnh cho cả hai người, S. và người tình, khai là chồng, thì S. lại không đi, người tình đi một mình. Thị ở lại, quan hệ với bác sĩ Ái, người Quảng Nam, chuyên sửa sắc đẹp ở Saigon. Trong đám nầy, ở đảo còn có Vĩnh Việt Phước, sau đi Úc. Nhờ vậy, theo S. khai, thị làm ăn khá, và có nhà riêng, trên đường Công Lý (nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) và có một số của hiện chôn dấu nhưng nhất định, chết thì thôi, không chịu khai cho ai biết nơi thị chôn dấu.
    Tôi lấy lời khai của thị đến đó thì ngưng, Lã Quí Tr. bảo để xem lại. Mấy hôm sau, hồ sơ của thị được chuyển cho Dương Văn Hiếu, trung úy, nguyên nhân viên phòng 2 Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 3, tiếp tục hỏi cung.
    Tôi không ngạc nhiên việc nầy, bởi vì, sau hôm thị S. khai có một số của cải hiện chôn dấu ở Saigon, thì chiều hôm đó, cơm nước xong, tôi cùng vợ tôi ra bãi biển khu C ngồi chơi. Bãi biển khu C tương đối vắng và sạch. Ngồi ở đó, ngồi nhìn ra biển là thấy Hòn Cá Mập, đảo hoang, không có người ở. Hòn đảo có hình giống như con cá mập vừa trồi nửa lưng lên mặt nước.
    Gần bãi biển khu C, cò một cái longhouse nằm riêng, ít ồn ào, thiếu tá Nguyễn Văn Ngh., khóa 20 Đà Lạt, cùng gia đình ở trong longhouse đó cùng người tỵ nạn. Ông Ngh. nguyên là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1… Dù (mới thành lập), là khóa đàn em ông Tr., khóa 18 Võ Bị. Ông Tr., chuẩn bị thay ông Khánh, và đưa ông Ngh. thế vào chức phó phòng của ông. Vậy là hai mặt tiền hậu, Lã Quí. Tr. khóa kỹ, không ai vào SB để trình báo, tố cáo, moi hồ sơ vợ lớn, vợ bé, bà mẹ vợ bé là thiếu tá Công an, v.v… và v.v… Coi như “an toàn trên xa lộ” đi… Mỹ của ông ta.
    Khi tôi đi ngang gian nhà nầy, phía trước có một cái bàn đóng liền ghế, vài người và ông Ngh. đang ngồi nghe BBC. Từ hồi vượt biên tới giờ, tôi không có radio nên không nghe được đài nào. Vã lại, đài BBC là đài tôi nghe rất quen, từ năm học đệ nhị cấp 1955 cho tới ngày đi tù cải tạo, nên tôi chào ông Ngh., xong ghé lại ngồi nghe ké. Được môt lúc, tôi có cảm tưởng như ai đang nhìn tôi. Quay lại thì thấy Bùi Thị Mi và Văn Thúy S. đang đứng chờ, không phải chờ tôi mà chờ ông Ngh. Tôi biết ý, bèn chào, cùng vợ con đi ra bãi biển. Tôi nghi hai mợ cháu nhà nầy sợ, đang chạy thuốc. Hôm sau, tôi không còn điều tra Văn Thúy S. nữa. Tôi nói với Thừa việc ấy. Thừa cũng nói anh ta cũng không còn phỏng vấn Bùi Thị Mi, hồ sơ giao cho ai đó tiếp tục, tôi không nhớ tên.
    Đã vắt giò lên cổ chạy trốn Việt Cộng, cũng không chừa thói cũ. “Có ba trăm lạng việc nầy mới xong.” Nghe nói không phải ba trăm lạng mà hai ngàn tiền Mã Lai đấy! “Tổ quốc ơi! Ta yêu người mãi mãi” vì tổ quốc của thời loạn lạc nầy, không khác chi Tổ Cò. Với lại, chú ba Lã Quí Tr., gốc Tầu thì tổ quốc của anh ta đâu phải là… Việt Nam.

    Văn Thúy S. còn khai thêm về “Vợ bé của ông Thiệu” thường gọi là bà “Sì Nốc”, viết đúng chữ Tây là Cirnos.
    Đây là một restaurant nổi tiếng ở Vũng Tầu, của ông Tây tên là Cirnos. Khoảng giữa thập niên 1950, ông Tây về Tây, sang tiệm lại cho bà Kim Anh. Bà vẫn giữ tên tiệm ăn như cũ để khỏi mất khách.
    Hồi trước 1975, báo chí Saigon cũng nói xa gần, mà người ta cũng đồn rằng bà Kim Anh là bồ của tổng thống Thiệu. Một người bạn của tôi làm chuyên viên ở phủ tổng thống thì nói rằng việc ấy không có. Chẳng qua, ông Thiệu tính tình hay vui đùa, nên trong những lần ông ra thăm Vũng Tầu, trong các buổi tiệc tùng, người ta “cặp đôi” ông Thiệu với bà Kim Anh vậy thôi.
    Hỏi Văn Thúy S. việc nầy, vì bố cô ta là ông Văn Văn L. với bà Kim Anh là đồng viện, hội đồng thị xã Vũng Tầu. Văn Thúy S. khai là bà Kim Anh có một đứa con trai với ông Thiệu, đặt tên là Thiếu. Tại sao đặt tên Thiếu, chắc là không phải thiếu tiền mà thiếu tình đó chăng?
    Sau 1975, bà Kim Anh bị bắt đi tù cải tạo, vì tội gì Văn Thúy S. không biết. Tôi cũng không nhớ Văn Thúy S. khai bà Kim Anh bị giam ở trại nào. Tuy nhiên, có lần cậu Văn Thúy S. là Hiệp, trung tá Công An đến thăm trại, nhân viên trong trại giới thiệu một người đàn bà tiều tụy, xấu xí, đang giữ việc nuôi heo là “tình nhân cũ của thằng Thiệu” (Viết như thế cho đúng ngôn ngữ của Việt Cộng). Hiệp thấy cũng tội nghiệp. Ấy là Văn Thúy S. kể lại như thế! Ít lâu sau, bà Kim Anh được tha, và trong một lần bà đến thăm Mười Vân, đi ngang văn phòng Hiệp, lúc đó đang làm phó cho Vân, Hiệp giật mình khi biết đó là người đàn bà nuôi heo mà Hiệp đã gặp mấy tháng trước. Hiệp không ngờ trên đời nầy có người đẹp và sang trọng đến thế. Nếu không có người nói cho Hiệp biết thì Hiệp không thể nghĩ ra đó là người đàn bà Hiệp từng gặp trong trại tù.
    Từ đó trở đi, bà Kim Anh đến văn phòng Mười Vân rất nhiều lần, và cuối cùng Mười Vân bị bắt.
    Bấy giờ Saigon bàn tán xôn xao về vụ Mười Vân và bồ cũ của ông Thiệu. Bà ấy chơi một đòn độc quá, nhưng cũng chẳng ai thương hại Mười Vân. Sau nhiều chuyến vượt biên ở Xuyên Mộc do bà Kim Anh và Mười Vân hợp tác với nhau, thu không biết bao nhiêu vàng mà kể, thì trong một chuyến gần chót, không biết bà Kim Anh thuyết phục Mười Vân như thế nào mà Mười Vân để cho bà ấy rời Việt Nam.
    Người ta đồn bà Kim Anh đem theo tất cả những tài liệu cần thiết để kết tội Mười Vân, kể cả những tấm hình bà ấy ăn nằm với Mười Vân. Những tài liệu nầy, khi bà Kim Anh ra tới hải ngoại rồi, được bà gởi thẳng cho Mascơva. Sư phụ Liên Xô bèn gởi những tài liệu ấy cho đệ từ Hà Nội, không quên kèm theo lời khiển trách, và Mười Vân bị bắt, bị đưa ra tòa xử tử hình.
    Bấy giờ báo chí Việt Cộng mạnh dạn tố cáo Mười Vân, lôi cả dòng họ cha ông Mười Vân ra tố khổ, nào bảo rằng Mười Vân là con chủ tiệm vàng ở Biên Hòa ngày trước. Từ một chủ tiệm vàng trước 1945 thì cũng chẳng có gì gọi là giàu có lắm, báo chí Việt Cộng nâng lên thành tiệm kim hoàn để kết tội Mười Vân là con nhà tư sản thành thị, theo “cách mạng” cũng chỉ là theo hùa, kiếm ăn, thiếu ý thức giác ngộ chủ nghĩa Mác, là nòi bóc lột, phản động v.v… và v.v…
    Dân Saigon có người lại vắt chân ngồi chưởi đổng. Biết người ta là con nhà tư sản bóc lột, không phải là tam đợi bần nông, tại sao lại cho theo “cách mạng” mà không loại trừ ngay lúc ban đầu, nâng cao tới chức giám đốc sở Công An, quân hàm đại tá rồi mới hạ bệ, bôi lọ không thiếu chỗ nào!
    Dân Saigon lại đồn hôm ra tòa, hỏi Mười Vân thu bao nhiêu vàng, chôn dấu nơi nào, Mười Vân trả lời tỉnh khô:
    – “Hỏi ông Lê Duẫn thì biết!”
    Tại sao lại hỏi ông Lê Duẫn? Ông Lê Duẫn làm tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam, có làm quản gia cho Mười Vân đâu mà có nhiệm vụ cất vàng cho Mười Vân? Có người nói mỉa như thế, nhưng ai ai cũng biết Mười Vân tổ chức vượt biên thu vàng có ăn một mình đâu. Cứ “xuân thu nhị kỳ” Mười Vân ra thăm tổng bí thư Lê Duẫn, đi bằng xe hơi riêng và có mang theo va-li nặng nhẹ như thế nào, làm sao biết được. Bây giờ Lê Duẫn theo chân “bác” xuống… địa ngục rồi, đâu còn chứng cớ. Bà Bảy Vân (vợ bé Lê Duẫn) tuy còn sống đấy, Lê Kiên Thành (con trai Lê Duẫn) còn sống đấy, nhưng liệu có hỏi tới thì họ cũng hô to: “Đồng chí tổng bí thư Lê Duẫn muôn năm”, không khác chi “Hồ chủ tịch muôn năm.” Đời người ta không dại nói thiệt đâu! Tục ngữ bảo rằng “Thật thà là cha dại” mà.
    Có người kể rằng bà con đến thăm vợ Mười Vân, thấy bà ta tỉnh khô, làm như chồng bà ta vẫn yên hàn vô sự, không có chuyện chi xảy ra cả. Người ta đòi đi thăm mộ thắp nhang cho Mười Vân thì bà ta gạt đi mà cười. Vậy là sao?! Không lý người bị đem xử tử không phải là Mười Vân mà lại là một tên tù vô danh nào đó thế mạng. Có người không tin, có người tin. Có việc gì xảy ra trong chế độ Cộng Sản mà khiến người ta tin được.
    Phỏng vấn Văn Thúy S. hai hôm, tôi moi được chừng đó tin tức. Tôi háo hức hy vọng còn moi thêm nhiều tin hay nữa, nhưng bỗng nhiên, tôi được lệnh ngưng phỏng vấn người đẹp hay nói nầy, đã có lần khiếu nại với tôi rằng tôi hay hỏi những câu “bắt thóp” khiến cô ta không khai cũng không được.
    Sau nầy, khi ông Ngh. lên thế ông Tr. rời đảo đi định cư, có lần ông Bill xuống longhouse ăn cơm với vợ chồng tôi và một người cháu vợ ông Bell, mà cũng là cháu của tôi tên là Trương Thị Quí Ph., nhân lúc uống nước trà ăn bánh ngọt, tôi hỏi ông Bill về cái kho tàng của Văn Thúy S. còn dấu lại ở Saigon. Ông Bill trả lời tôi trong lời khai của Văn Thúy S., ông ta có thấy nói gì tới kho tàng đó đâu! Tài thật, cũng khá khen cho chú ba Lã Quí Tr. có tài âm binh hủy bỏ những bản cung tôi ghi nhận ở Văn Thúy S. và thay vào đó những trang lý lịch “sạch sẽ”. Nói chuyện đó với Nguyễn Dương Hảo, bấy giờ Hảo mới chịu đồng ý với tôi rằng tay ấy là ma đầu. Một mình y, từ nịnh trên nạt dưới, dẫn gái, ma cô, mà xoay chuyển bao nhiều người như không!

    Làm việc ở SB tôi thấy có nhiều cái hay. Nếu cứ nghiên cứu tất cả những lời khai của các binh lính sĩ quan chế độ cũ, người ta có thể vẽ ra một bức tranh ảm đạm những ngày cuối cùng của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Cứ như thế mà làm, người ta có thể thấy không khí ngày 30 tháng Tư ở Saigon hay đâu đó như thế nào. Nếu cứ nghiên cứu những lời khai của cán binh Việt Cộng, tình báo Mỹ có thể biết tình hình quân đội Việt Cộng sau 30 tháng Tư như thế nào, hiểu được những gì Việt Cộng đã làm trước và sau khi tấn công Kampuchia. Cứ nghiên cứu lời khai của cán bộ đảng viên, công nhân, cán sự, kỹ sư vượt biên tới đảo, tình báo Mỹ sẽ hiểu rõ tình hình miền Nam Việt Nam hay Saigon nói riêng hiện đang diễn tiến như thế nào.
    Có điều đáng tiếc, khi hỏi những người vượt biên có học thức, bằng cấp về tình hình các trường đại học ở Saigon như thế nào, thì vì những lý do rất riêng tư, phe nhóm, những người làm việc ở phòng SB lại chưa từng học đại học bao giờ lại đảm nhận việc phỏng vấn ấy. Như truờng hợp hai anh em ông Hà, hai anh em ông nầy mới đậu tú tài 1 rồi đi Thủ Đức, chưa bước chân vào ngưỡng cửa đại học thì biết gì về ngành nầy để phỏng vấn các kỹ sư, bác sĩ khi họ vượt biên tới trại tỵ nạn. Trình độ hiểu biết hạn chế đã thu hẹp khả năng làm việc của họ và ảnh hưởng đến kết quả công việc. Họ được chỉ định làm những việc đó chẳng qua họ là “đệ tử” ruột của các ông trưởng phòng SB.
    Đối với đồng bào tỵ nạn trên đảo – tôi dùng chữ “đồng bào” với đầy đủ nghĩa đen, nghĩa bóng của nó – thì phòng SB và khối An Ninh là nơi họ rất ngại, nếu không muốn nói là sợ. Tuy gọi là An Ninh nhưng thực ra công việc của nó chỉ là giữ trật tự, ngăn chận hoặc bắt giữ những người phạm pháp, quậy phá, du côn, du đảng – thường gọi là “bồ tạt” – khối An Ninh tự phân xử lấy, nếu trường hợp không có gì nghiêm trọng, có thể giam giữ ít hôm ở “Monkey House”, phòng giam gần khu làm việc của Cao ủy Tỵ Nạn. Trường hợp nghiêm trọng thì mời Cao ủy đặc trách về an ninh, thường là ông Francesco, người Ý, đến phân xử. Còn những vụ án mạng thì phải giải qua Terrenganu cho tòa án Mã Lai xử tội. Có lẽ họ áp dụng theo luật Mã Lai, tôi không rành về các việc nầy vì tôi không làm việc ở khối An Ninh.
    Riêng về phòng SB, người tỵ nạn coi nó như là môt cơ quan tình báo, mật vụ, đảm trách các vụ chính trị, Việt Cộng len lỏi vào trong số đồng bào tỵ nạn để hoạt động sau nầy.v.v…
    Tôi không hiểu sao đồng bào sợ phòng SB đến thế, ngay cả môt số sĩ quan trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Họ có “tì vết” gì chăng? Có hợp tác với chế độ mới chăng? Có người đi tù cải tạo, không ít người bị đưa ra Bắc, có người đi tù về chẳng làm gì hết, hoặc đạp xích lô, hoặc thợ chụp hình, vá xe đạp, buôn thuốc Tây lậu, hoặc thợ hớt tóc, thợ may, hoặc làm việc cho hợp tác xã, cho công ty, xí nghiệp, v.v… và v.v…
    Nếu chỉ chừng đó thì có chi đáng sợ?
    Người đáng sợ chính là ông Lã Quí Tr., trưởng phòng SB. Ông ta là phó phòng 3 (Hành quân) Sư đoàn Dù, “sắp lên trung tá” – như ông ta nói, đi tù 4 năm rưởi thì về – người khác thì chắc là ngồi gỡ trên 10 cuốn lịch đấy -, có mẹ vợ bé là “Việt Cộng nằm vùng”, sau 30 tháng Tư đeo “loon” thiếu tá Công An. Hay như bạn ông, ông Nguyễn Kh., người chủ tàu cho ông đi “free”, đại úy Dù, không học tập cải tạo, lại còn tổ chức vượt biên ở Bến Tre, quê hương ông ta. Những người như thế mới có nghi vấn, mới có câu hỏi chứ. Còn như người nào có làm việc cho hợp tác xã, công ty, xí nghiệp thì cũng chẳng có gì đáng ngại cả. Mắc chi sợ bóng, sợ gió vậy?
    Những người làm việc ở phòng SB hầu hết tham gia chế độ cũ, ít nhiều có đi tù, nên oán hận và thù ghét Việt Cộng, và “hình như” – tôi nói hình như – họ đem cái oán hận đó đổ lên đầu những người vượt biên có ít nhiều quan hệ đến Việt Cộng.
    Chẳng hạn như có hôm tàu vượt biên xuất phát từ Bến Tre tới, đồng bào sắp hàng dọc, ngồi bệt trên sàn nhà chờ gọi làm lời khai sơ khởi, nên có nhân viên SB nhìn họ, gọi mỉa “À! Tàu quê hương Đồng Khởi!” Một bà thuộc tầu nầy trả lời: “Bây giờ Đồng Khổ rồi ông ơi!” Nghe lời đối đáp, tôi hiểu cả hai bên nói và trả lời, và thấy thương cho người dân Bến Tre.
    Trong tập thơ “Nước Non Ngàn Dặm” của Tố Hữu có mấy câu:
    Hỡi ngươi chị của Bến Tre,
    Quê hương Đồng Khởi bốn bể đó chăng?!
    Miền Nam gan dạ ai bằng,
    Đội quân đầu tóc khăn rằn vắt vai.

    Người chị của Bến Tre là bà Nguyễn Thị Định, chức chưởng là phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, đứng sau ông Trần Văn Trà. Nhưng chức của Trà hay Định cũng là cái chức “dỗm”, nói ra nghe buồn cười và đau lòng cho người miền Nam dễ tin, nhẹ dạ. Cả tỉnh Bến Tre, đâu có phải ai cũng là Nguyễn Thị Định hay “đội quân đầu tóc” của bà Định cả hay sao? Họ cũng như toàn thể dân miền Nam vĩ tuyến 17 vậy, có người theo quốc gia, có người theo cộng sản. Không phải hễ cứ ai là Bến Tre đều là Việt Cộng cả. Trong trại tù Cải Tạo, khi tôi bị đưa vào “Trại Đá” – tức là trại A của Z30-A, trại có xây hàng rào cao và giam kỹ lắm, Việt Cộng sợ chúng tôi trốn trại, thì tôi gặp không biết bao nhiêu sĩ quan chế độ cũ quê ở Bến Tre, bị đưa từ “trại Vườn Đào” từ Cai Lậy lên. Thường hay đùa chơi với tôi thì có Huỳnh Hà Đông, Đỗ Trọng Khiêm, chi khu phó Trúc Giang (Không phải bố Trúc Hồ đâu!), Lê Khắc Thiệu, Lê Văn Tào, Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Thành Trung, (Trung méo, không phải Trung phi công theo Việt Cộng, cũng quê ở Bến Tre), Huỳnh Văn Trí (chúng tôi thường gọi đùa là Tư Thiềng liềng), hầu hết là tiểu đoàn trưởng Địa phương quân. Còn nhiều nữa, có dịp xin kể lại sau. Nếu bây giờ họ có vượt biên tới trại tỵ nạn, nhân viên SB cũng coi họ “quê hương Đồng Khởi” là thân Cộng, theo Việt Cộng cả hay sao?
    Khi lập hồ sơ, nếu ai có đi bộ đội, hay làm việc cho Việt Cộng thường bị nạt nộ, có khi chưởi bới nặng lời. Có lần Nguyễn Văn Cường, kỹ sư luyện kim, ở chung longhouse, than phiền với tôi: “Em học đại học nửa chừng thì Việt Cộng chiếm miền Nam, nên tốt nghiệp sau 1975. Tốt nghiệp rồi Việt Cộng kêu đi làm thì phải làm. Chán chế độ, em đi vượt biên. Em có phải là Việt Cộng đâu mà SB làm dữ vậy!” Còn nếu như ai là bộ đội, thì bị nạt nộ, hăm dọa dữ dằn, cứ bảo là khai gian, khai láo. Xem hồ sơ, tôi thấy họ bị bắt đi “nghĩa vụ quân sự”. Nó cũng giống như ngày trước bị “quân dịt quân gà” vậy, cũng chỉ là kẻ cầm súng nhưng làm bia đỡ đạn cho chế độ, họ có là quan quyền gì đâu mà ghét bỏ, thù hận họ dữ thế!? Có một thanh niên, chỉ nói quê quán thôi, độc giả thừa biết anh ta là người như thế nào. Quê quán là ấp Mò Ó, xã Đại Ngãi, quận Long Phú, tỉnh Ba Xuyên (Sóc Trăng cũ). Sinh sống ở ấp Mò Ó thì rõ ràng anh ta mới thấy “đèn điện” – ngọn đèn treo ngược, như cụ Phan Thanh Giản nói – sau khi anh ta tới trại tị nạn. Còn vượt biên: xã Đại Ngãi gần biển, dễ vượt biên, nhất là sau khi Việt Cộng “thả lỏng”, người ta đi thì anh ta “canh me” mà đi. Xứ anh ta dễ “trốn nghĩa vụ” nên anh ta trốn. Vậy mà SB không chịu hỏi cho kỹ, cho là có đi bộ đội mà không khai, nên Lã Quí Tr. giải giao cho Mã Lai, đem giam vào khám. Anh ta bị Mã Lai đánh cho mặt mũi sưng vù lên. Giam mấy hôm, đem anh ta về, anh ta cứ một mực “Tui biết chi bộ đội mà khai.”
    Cũng là nạn nhân Cộng Sản cả, làm gì mà bức bách nhau dữ thế?!

    Thật ra, có những sự kiện thuộc lãnh vực tình báo, dân chúng trên đảo nhiều người biết, lại biết rõ, mà phòng SB lại chẳng biết gì hết cả. Tôi có thể cầm chắc tình báo Mỹ không có tài liệu nào nói tới tầu MC 522, là tầu “đi lạc” tới Bidong.
    Câu chuyện đầu đuôi như thế nầy:
    Chiếc tầu MC 522 là tầu mới đóng ở Bình Triệu Saigon, do sở Công An Thành phố (Saigon) chủ trương, đóng để “gài” sở Công An Long Xuyên tổ chứcvượt biên.
    Khi tầu đóng xong, sở Công An thành phố (Saigon) cho người giả dạng móc nối với công an Long Xuyên, tàu được đưa về Long Xuyên, “khách” phần đông là dân Saigon, được người của Công An Long Xuyên móc nối để lên “ghe lớn”, ghe đậu ngay tại “Ngã Ba Lộ Tẻ.”
    Kế hoạch vạch ra là khi “khách” lên ghe xong đâu đó rồi, công an Thanh phố (Saion) sẽ bao vây, bắt ghe, lập biên bản, truy tố Công An Long Xuyên tổ chức vượt biên.
    Để nắm gọn toàn bộ “khách” không cho ai chạy thoát, thì tài công là người của Công An thành phố gài vào. Bên cạnh tài công, còn có một tay làm điểm chỉ cho công an, tên nầy là con của Ba Trí, nhà ở phía ngoài cư xá Thanh Đa, kế “Nhà Nghỉ Thanh Đa” Saigon. Tên nầy được cấp một cây Carbine, chờ hễ khi Công An bao vây, y sẽ đứa súng lên, bắt tất cả mọi người ngồi im, không được trốn chạy.
    Ở Thanh Đa (phường 27, quận Bình Thạnh), nhiều người biết Ba Trí. Trước 1975, y là tên du đãng nổi tiếng ở ngã năm Bình Hòa, Gia Định, trốn quân dịch. Ngày 30 tháng Tư, 1975, y dẫn đường cho Việt Cộng từ cầu Banky vào tiếp thu tòa hành chánh tỉnh Gia Định. Sau đó, y được tuyển dụng làm tài xế cho sở Công Nghiệp Thành phố (Saigon). Vì bản chất là một tay du thủ du thực, một gốc với “thằng Cảnh”, tức Trần Quốc Hoàn, y được chế độ mới ưu đãi. Con trai của y chẳng đứa nào phải “thi hành nghĩa vụ quân sự” và làm chỉ điểm cho công an địa phương.
    Tài công là người miền Nam, nhưng vợ tài công là con gái cán bộ, hợp tác với con trai Ba Trí trong vụ “gài vượt biên” nầy. Chồng của thị, không biết việc làm của vợ.
    May mắn cho chuyến tàu vượt biên MC 522 nầy là khi “khách” đã lên tầu xong xuôi, đầy đủ, thâu hết vàng của khách rồi, thì Công An Long Xuyên ra lệnh nhổ neo, theo kinh núi Sập ra biển, có Công An Long Xuyên hộ tống, trong khi Công An Thành phố chưa kịp về tới.
    Dĩ nhiên, đến Bidong, phần đông “khách” đi tầu không ai biết việc nầy. Người bị kẹt là con trai của Ba Trí, y là người do Công An thành phố gài vào chứ đâu có muốn vượt biên. Y khai là cây súng Carbine do người tổ chức vượt biên trao cho y, đề phòng hải tặc Thái Lan. Sau đó, y xin được hồi hương, và suốt ngày trốn trong nhà. Y biết ở đảo, không ít người gốc ở Thanh Đa, nhận ra y là con Ba Trí. Mãi đến khi y được cao ủy cho rời đảo để hồi hương, việc y được Công an thành phố gài vào tổ chức vượt biên mới bật mí nhiều người biết. Và tôi cũng biết, biết rõ hơn những ngươi khác vì trước khi vượt biên, tôi cũng ở Thanh Đa, một xóm với Ba Trí.
    Trường hợp Phan thị Hương cũng khá đặc biệt. Trước 1975, thị Hương là sinh viên, hoạt động cho Việt Cộng. Khi Cộng Sản chiếm Saigon, thị Hương là cán bộ, đội nón cối, mặc đồ bộ đội màu xanh, hằng ngày đi làm có xe hơi đưa rước. Cán bô cấp trung, cấp cao lui tới nhà thị tấp nập, rồi thi có bầu. Năm 1988, thị vượt biên tới Bidong với đứa con trai khoảng 1 tuổi là con không có tên cha. Có lẽ thị Hương không chọn được tên cha là cán bộ nào trong số lui tới nhà thị. Khi có người tố cáo quá trình của thị cho phòng SB, thị Hương bị điều tra. Thị cứ một mực khai sau “giải phóng” thị bán thuốc Tây ở chợ trời. Phòng SB cũng chịu thua. Sau đó thị Hương được định cư ở Canada.

    Dĩ nhiên, tôi chán làm việc ở đây. Tôi thấy mình thừa! Ông Tống Văn Thừa, sau vụ Bùi Thị My, Văn Thúy S. cũng thấy thừa, đúng như tên ông là Thừa, nên ông bỏ không đi làm, đi chơi lang thang “mà còn hơn” như ông nói với tôi vậy. Nguyễn Dương Hảo cũng qua làm việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng. Có lẽ qua Hảo giới thiệu, một hôm ông cố vấn Trương Mạnh Hùng qua phòng SB gọi tôi ra, yêu cầu tôi qua làm việc ở phòng Phát Triển Cộng Đồng với ông ta.
    Tôi trả lời:
    – “Tôi đi rồi, các con tôi ở Việt Nam đang chuẩn bị vượt biên theo cha mẹ. Tôi muốn làm việc ở phòng SB để được là người đón các con khi chúng vừa đến đảo.”
    Cố Vấn Trương Mạnh Hùng cười:
    – “Anh yên tâm. Làm việc ở đây, anh chỉ được đón con anh khi chúng đến phòng SB. Còn tôi, tôi sẽ đưa anh ra tận cầu jetty, đón các con anh khi chúng vừa bước chân lên đầu cầu.”
    Nghe thế, tôi cũng khoái trong bụng, nhưng chưa quyết đoán. Đến gần Noel, chiếc ghe vượt biên của các con tôi đến đảo nhưng không có đứa con nào của tôi trên ghe đó cả. Tôi chỉ nhận được một lời nhắn của đứa con trưởng nhắn lại với người đi cùng chuyến: “Em qua nói với ba chị, Bi chết, chị và các em phải quay trở lui để tìm xác Bi.”
    Ghe chúng nó bị lật trên đường ra chiếc ghe lớn. Chúng lên được ghe lớn rồi mà phải quay trở lui.
    Bỏ việc, tôi ra về. Tôi và vợ tôi nằm ôm mặt khóc suốt buồi chiều hôm đó!

    Phụ lục:
    Thư độc giả

    Kính Anh

    Tôi đã nhận được quyển sách anh gởi tặng hôm qua, 9 tháng 7. Trước đó 2 ngày, tôi đã chuyển giao cho anh Dũng một món quà của anh.

    Cám ơn anh đã ưu ái gởi tặng.

    Sẵn đây, tôi kể lại câu chuyện đã xảy ra. Cách đây khoảng trên dưới nửa tháng, ông xếp tôi (Ông C.) hỏi tôi bài Đời Tỵ Nạn đăng hôm nào mà hôm nay có người khiếu nại, nói rằng bài viết ấy nói đụng chạm đến họ. Tôi mới chỉ cho Ô. Căn vào directory của anh để đọc bài đó. Sau khi đọc xong (bài thứ hai), ông mới nói tôi không đọc kỹ, để tác giả nói xấu người khác mà mình không thể kiểm chứng được sự thật, có thể mình sẽ liên hệ trách nhiệm, nếu người bị đả kích kiện ra tòa. Sau đó, ông (C.) xóa một đoạn sau của bài Đời Tỵ Nạn 2, rồi cuối tuần, đăng lên báo tuần lời xin lỗi của tòa soạn đối với những người liên hệ trong bài viết.

    Sau nầy, tôi được biết (do bạn bè cung cấp) là ông Lã Quý Tr. hiện làm… cai ngục ở nhà tù tại San Jose cùng với Trung tá Bùi Quyền đã lâu rồi, nhưng ông ta không xuất hiện trong cộng đồng, ông ta mai danh ẩn tích. Có người còn nói với tôi rằng, ông ta là khóa 18 Đà Lạt, người cao ráo, đẹp trai, đã từng ở ngoài Bắc (tại Vĩnh Phú hay Nam Hà gì đó, tôi quên mất), ông ta cũng làm trật tự phụ trách việc thăm nuôi, đã từng dẫn tù nhân ra gặp gia đình khi đến thăm nuôi. Ông ta không biết là trên báo và trên web có bài nói về ông ta, người khác đọc thấy và mách với ông ta. Ông ta gọi điện thoại cự nự với ông Căn, rồi ông Căn… gõ xuống…

    Cũng vì chuyện nầy mà chuyện… giới thiệu quyển Hương Tràm Trà Tiên, đành phải xếp xó, không thể thực hiện được.

    Tóm tắt sự việc như thế, và xin anh… coi như không có chuyện gì. Chuyện giữa anh, anh Dũng và tôi vẫn như xưa, không gì thay đổi.

    Kính anh

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: